Phân loại và đặc điểm viêm khớp thiếu niên tự phát

phan-loai-va-dac-diem-viem-khop-thieu-nien-tu-phat

Bệnh viêm khớp dạng thấp thiếu niên thường khởi phát sau khi bị nhiễm virus, vi khuẩn. Nguyên nhân bệnh viêm khớp thiếu niên vẫn chưa rõ nhưng nhiều người cho rằng bệnh có tính chất tự miễn với tình trạng nhiễm khuẩn làm khởi động một loạt các quá trình trong hệ thống miễn dịch.

1. Viêm khớp thiếu niên thể viêm ít khớp

Bệnh viêm khớp dạng thấp thiếu niên thể viêm ít khớp là tình trạng viêm khớp với số khớp viêm dưới 4 khớp. Thể viêm ít khớp được phân làm 2 type nhỏ: viêm ít khớp thể giới hạn (số khớp viêm không quá 4 khớp trong quá trình diễn biến của bệnh) và viêm ít khớp mở rộng (tức là trong 6 tháng đầu, số viêm khớp trên 5 khớp). Tuổi và giới: thường gặp ở trẻ gái (tỷ lệ nữ/nam là 5/1), thường khởi phát ở tuổi từ 2 – 5 tuổi (3 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất).

Triệu chứng lâm sàng của viêm khớp thiếu niên tự phát bao gồm:

Tổn thương, đau các khớp xương ở gối, cổ chân, khuỷu tay và các khớp nhỏ như khớp bàn tay, bàn chân. Hiếm khi gặp tổn thương khớp háng hoặc khớp cùng chậu.
Các khớp viêm không đối xứng, không có dấu hiệu toàn thân như sốt, phát ban
Có biến chứng viêm màng bồ đào đặc biệt hay gặp ở các trẻ gái khởi phát bệnh sớm và đặc biệt trẻ có kháng thể kháng ANA (+).
Thường đạt lui bệnh sau 4 – 5 năm, nhưng với thể tiến triển mở rộng thì tiên lượng giống thể .

Lưu ý: Đối với những trẻ có tiền sử gia đình bị vẩy nến, yếu tố dạng thấp – RF dương tính hoặc viêm các điểm bám tận được chẩn đoán loại trừ thể bệnh này.

phan-loai-va-dac-diem-viem-khop-thieu-nien-tu-phat-1

Bệnh viêm khớp dạng thấp thiếu niên thường khởi phát sau khi bị nhiễm virus, vi khuẩn

2. Bệnh viêm khớp thiếu niên thể viêm nhiều khớp

Bệnh viêm khớp dạng thấp thiếu niên thể đa khớp biểu hiện viêm từ 5 khớp trở lên. Thể này được chia thành hai nhóm là viêm nhiều khớp RF âm tính hoặc dương tính với các đặc điểm dưới đây:

2.1. Thể viêm nhiều khớp RF âm tính

Thể bệnh này đặc trưng có ít nhất 5 khớp tổn thương trong vòng 6 tháng đầu và xét nghiệm RF cho kết quả âm tính ít nhất 2 lần trong thời gian 3 tháng. Thể viêm nhiều khớp có thể gặp ở mọi tuổi, song có hai lứa tuổi có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất là 2 tuổi và trước khi trưởng thành; trẻ nam chiếm đa số.

Triệu chứng lâm sàng:

Viêm ít nhất 5 khớp, song ít gặp tổn thương các khớp nhỏ ở bàn ngón tay
Viêm đa khớp không có tính chất đối xứng.
Tổn thương bào mòn xương trên có thể xuất hiện muộn.
Viêm màng bồ đào mạn tính chiếm 5 – 10% số trẻ mắc thể này.
Kháng thể kháng nhân thường âm tính.

2.2. Thể viêm nhiều khớp RF dương tính

Thể bệnh này cũng được đặc trưng là có ít nhất 5 khớp tổn thương trong vòng 6 tháng đầu và xét nghiệm RF cho kết quả dương tính ít nhất 2 lần trong thời gian 3 tháng. Thể bệnh này thường gặp ở trẻ trên 10 tuổi với tỷ lệ nữ/nam là 4/1.

Triệu chứng lâm sàng:

Tổn thương ở cả khớp lớn, khớp nhỏ, đối xứng, viêm nhiều khớp xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu của bệnh.
Mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, có hạt thấp dưới da.
Bệnh thường diễn biến kéo dài, có hủy khớp biểu hiện bởi hình bào mòn xương trên X-quang xuất hiện sớm.
Tỉ lệ viêm màng bồ đào thấp hơn các thể khác.

3. Viêm khớp dạng thấp có viêm điểm bám gân

Thể bệnh này được coi là viêm cột sống dính khớp ở người trẻ em. Bệnh thường gặp ở trẻ trai 6 tuổi.

Triệu chứng lâm sàng:

Viêm khớp không đối xứng ở chi dưới có kèm viêm điểm bám của các gân, nơi bám vào xương.
Tỉ lệ có mặt HLA-B27 cao, có viêm màng bồ đào mạn tính.

4. Viêm khớp dạng thấp thể viêm khớp vảy nến

Đây là thể viêm khớp mạn tính thiếu niên xuất hiện trước 16 tuổi, biểu hiện đặc trưng là viêm khớp có kèm vẩy nến. Thể bệnh này thường gặp ở trẻ em độ tuổi 2 – 3 tuổi và 10 – 12 tuổi; thường gặp trẻ gái.

Triệu chứng lâm sàng:

Viêm khớp có thể xuất hiện trước, đồng thời hoặc sau vẩy nến.
Giai đoạn đầu, tổn thương khớp không đối xứng (đối với cả khớp nhỏ hoặc khớp lớn).
Tổn thương nhiều khớp ở giai đoạn sau có thể xuất hiện ngón chi hình khúc dồi.
Xét nghiệm: Xét nghiệm yếu tố dạng thấp –RF thường âm tính.

Chẩn đoán viêm khớp vẩy nến cần dựa vào triệu chứng viêm khớp kèm theo tổn thương vẩy nến điển hình hoặc có 2 trong 3 yếu tố sau: vẩy nến móng, ngón chi hình khúc dồi và tiền sử vẩy nến ở gia đình (thế hệ đầu tiên).

5. Viêm khớp thiếu niên thể hệ thống

Viêm khớp thiếu niên thể hệ thống có độ tuổi khởi phát thường gặp nhất là 1 – 2 tuổi, tỉ lệ nam nữ như nhau.

Triệu chứng lâm sàng:

Viêm khớp (một hoặc vài khớp) thành đợt, ít nhất tồn tại trong 2 tuần, sau đó thường khỏi hoàn toàn.
Sốt kéo dài khoảng 2 tuần với đặc điểm sốt ít nhất 3 ngày liên tục.
Xuất hiện ban, tổn thương nội tạng (gan, lách, hạch ngoại biên to, viêm màng ngoài tim, màng phổi…).
Xét nghiệm có hội chứng viêm ( cao, CRP cao, ferritin máu cao). Yếu tố dạng thấp -RF, kháng thể kháng nhân thường âm tính.

Do trẻ có các triệu chứng hệ thống rầm rộ, sốt, gan lách hạch to và rất cần chẩn đoán phân biệt với nhiễm khuẩn toàn thân, bệnh bạch cầu cấp…

6. Viêm khớp thể không phân loại

phan-loai-va-dac-diem-viem-khop-thieu-nien-tu-phat-2

Viêm khớp thiếu niên thể hệ thống có độ tuổi khởi phát thường gặp nhất là 1 – 2 tuổi

Viêm khớp dạng thấp thiếu niên được xếp vào thể này khi biểu hiện viêm khớp kéo dài mà không đủ tiêu chuẩn để xếp vào vào bất cứ thể nào trong 6 thể trên. Với thể này, trẻ cần được theo dõi và đánh giá lại theo thời gian.

Với nhiều thể bệnh phức tạp. khi có triệu chứng viêm khớp thiếu niên, phụ huynh nên đưa trẻ đến bệnh viện có phòng khám chuyên khoa cơ xương khớp để thăm khám, phát hiện và điều trị kịp thời. Tùy tình trạng bệnh bác sĩ sẽ có phác đồ điều trị phù hợp. Điều trị viêm khớp dạng thấp thiếu niên bao gồm các biện pháp không dùng thuốc, dùng thuốc và điều trị ngoại khoa.

Để đăng ký khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY.

XEM THÊM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *